Trong lịch sử văn học Việt Nam hàng nghìn năm, có một cái tên vượt ra khỏi biên giới quốc gia, được thế giới thừa nhận ngang hàng với các đại thi hào nhân loại. Đó là Nguyễn Du (1765–1820), nhà thơ, nhà văn hóa lớn. Năm 1965, nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh của ông, UNESCO đã chính thức vinh danh Nguyễn Du là Danh nhân văn hóa thế giới. Đây là vinh dự hiếm có, và cho đến nay ông vẫn là người Việt Nam duy nhất nhận danh hiệu này trong lĩnh vực văn chương.
Tác phẩm được dịch ra hơn 20 thứ tiếng, đọc khắp 5 châu
Nhắc đến Nguyễn Du, không thể không nhắc đến Truyện Kiều - tuyệt tác được viết bằng chữ Nôm, gồm 3.254 câu thơ lục bát, hoàn thành vào đầu thế kỷ 19. Không chỉ là kiệt tác của văn học Việt Nam, Truyện Kiều còn là một trong những tác phẩm thơ châu Á được dịch nhiều nhất trên thế giới, với hơn 20 bản dịch ra các thứ tiếng như Anh, Pháp, Đức, Nga, Trung, Nhật, Hàn, Séc, Ba Lan, Hungary…
Truyện Kiều được dịch ra hơn 20 thứ ngôn với 80 bản dịch khác nhau
Độc giả ở Nga đọc Kiều bằng tiếng Nga. Học giả Pháp viết luận án về Nguyễn Du. Trường đại học ở Mỹ đưa Truyện Kiều vào giáo trình văn học so sánh. Đó là sức lan tỏa mà rất ít tác phẩm văn học châu Á thế kỷ 19 có thể sánh được.
Điều đặc biệt là Truyện Kiều không chỉ được dịch thuần túy về ngôn ngữ, nhiều dịch giả nước ngoài đã dành nhiều năm nghiên cứu văn hóa, lịch sử Việt Nam để chuyển tải đúng hồn cốt của tác phẩm. Đó là minh chứng cho chiều sâu mà Nguyễn Du đã tạo ra trong từng câu chữ.
Cuộc đời truân chuyên sinh ra thiên tài
Nguyễn Du sinh năm 1765 tại Thăng Long (Hà Nội ngày nay), trong một gia đình quan lại danh giá. Cha ông là Nguyễn Nghiễm, từng giữ chức Tể tướng. Tuy nhiên, cuộc đời ông lại trải qua không ít biến động: mồ côi cha khi mới 10 tuổi, mồ côi mẹ năm 12 tuổi, rồi chứng kiến cảnh triều đại suy vong, đất nước loạn lạc trong giai đoạn giao thời giữa nhà Lê và nhà Nguyễn.
Chính những năm tháng phiêu bạt, chứng kiến cảnh bể dâu của thời cuộc đã hun đúc nên tâm hồn thơ Nguyễn Du - một tâm hồn nhạy cảm đến mức đau lòng, luôn xót thương trước những phận người bị vùi dập bởi số phận và xã hội. Người ta nói rằng khi viết về nỗi đau của nàng Kiều, Nguyễn Du đã viết bằng chính máu thịt của mình.
Ông làm quan dưới triều Nguyễn, từng được cử đi sứ sang Trung Quốc năm 1813. Chuyến đi này để lại dấu ấn sâu đậm trong thơ văn ông. Nguyễn Du mất năm 1820, hưởng thọ 55 tuổi, nhưng di sản ông để lại thì trường tồn mãi với thời gian.
Di sản sống mãi
Thúy Kiều và Kim Trọng trong “Kim Vân Kiều truyện
Câu nói nổi tiếng của học giả Phạm Quỳnh "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn" đã nói lên tầm vóc đặc biệt của tác phẩm này đối với bản sắc văn hóa dân tộc.
Truyện Kiều không chỉ là một câu chuyện tình buồn về số phận người phụ nữ tài sắc trong xã hội phong kiến. Ẩn sau 3.254 câu thơ là toàn bộ triết lý nhân sinh của Nguyễn Du: sự thương cảm với những con người nhỏ bé trước guồng máy xã hội, niềm tin vào tài năng và phẩm giá con người dù hoàn cảnh có nghiệt ngã đến đâu, và khát vọng về một thế giới công bằng hơn.
Chính vì thế, người Việt từ thế kỷ 19 đến nay vẫn "lẩy Kiều", "bói Kiều", trích dẫn Kiều trong mọi hoàn cảnh của đời sống. Truyện Kiều đã thấm vào ngôn ngữ, vào tâm hồn người Việt theo một cách không tác phẩm nào khác làm được.
Hơn 200 năm sau ngày Nguyễn Du ra đi, tên tuổi ông vẫn hiện diện khắp nơi: từ tên đường phố ở Hà Nội, TP.HCM đến tên trường học, thư viện, giải thưởng văn học. Khu lưu niệm Nguyễn Du tại Hà Tĩnh - quê hương ông hằng năm đón hàng chục nghìn lượt khách đến thăm viếng.
Ở nước ngoài, các hội Kiều học được thành lập tại nhiều quốc gia, nơi các học giả quốc tế cùng nhau nghiên cứu và tôn vinh di sản của ông. Đó là điều mà rất ít nhà thơ châu Á nào có được.
Nguyễn Du - người đàn ông sinh ra trong loạn lạc, sống trong truân chuyên đã biến nỗi đau cá nhân thành tiếng nói của cả dân tộc, rồi vươn xa hơn, thành tiếng nói của nhân loại. Đó là điều mà UNESCO đã thừa nhận từ hơn nửa thế kỷ trước, và là điều mà hàng triệu độc giả trên khắp thế giới vẫn đang tiếp tục khám phá.